Văn bản pháp quy
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh, Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2017)
05/07/2017 09:54:36

I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI, Ý NGHĨA CỦA NGÀY THƯƠNG BINH, LIỆT SĨ
1. Hoàn cảnh ra đời

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam) ra đời chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Với tinh thần “… thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu chống lại quân xâm lược. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến quyết liệt chống thực dân Pháp, nhiều đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống, hy sinh một phần xương máu trên các chiến trường. Với truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và nhân dân ta đã dành tất cả tình thương yêu cho các chiến sĩ và đồng bào đã vì độc lập, tự do của Tổ quốc mà bị thương hoặc hy sinh.

Đầu năm 1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn ra đời ở Thuận Hóa/Bình Trị Thiên (nay là Tuyên Hóa/Quảng Bình), rồi đến Hà Nội và một số địa phương khác. Sau đó ít lâu được đổi thành Hội giúp binh sĩ bị thương. Ở Trung ương có Tổng Hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch danh dự của Tổng Hội.

Ngày 28/5/1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng tại Nhà hát Lớn Hà Nội để kêu gọi mọi người gia nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sĩ bị thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự.

Ngày 17/11/1946, cũng tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam đã tổ chức lễ xung phong, mở đầu cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ” trong cả nước để giúp chiến sĩ trong mùa đông giá rét. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự buổi lễ và Người đã cởi chiếc áo đang mặc để tặng binh sĩ.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 19/12/1946, theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã nhất tề đứng dậy kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên, đời sống của chiến sĩ, nhất là những chiến sĩ bị thương gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn.

Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều quyết định với những chính sách quan trọng về công tác thương binh, liệt sĩ, góp phần ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, gia đình liệt sĩ.

Ngày 16/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 20/SL, quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sĩ đối với cuộc kháng chiến và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đến thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ.

Tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội Phụ nữ Cứu quốc, Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin Tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) để bàn về công tác thương binh, liệt sĩ và thực hiện Chỉ thị của Hồ Chủ tịch chọn một ngày nào đó làm Ngày Thương binh, Liệt sĩ. Tại cuộc họp này, các đại biểu đã nhất trí chọn ngày 27/7 là ngày “Thương binh toàn quốc”. Từ đó hằng năm cứ vào dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi thư, quà thăm hỏi, động viên, nhắc nhở mọi người phải biết ơn và hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ. Đặc biệt, từ sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến công tác thương binh, liệt sĩ.

Từ tháng 7/1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi “Ngày Thương binh toàn quốc” thành “Ngày Thương binh, Liệt sĩ” để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sĩ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị số 223-CT/TW ngày 8/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa III, từ năm 1975, ngày 27/7 hằng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh, Liệt sĩ” của cả nước.

Mỗi năm cứ đến “Ngày Thương binh, Liệt sĩ”, nhất là vào dịp kỷ niệm năm tròn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, đầy tình nghĩa chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng.

2. Ý nghĩa

Ngày Thương binh, Liệt sĩ (TBLS) có ý nghĩa lịch sử, chính trị, xã hội sâu sắc, đó là:

- Truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người đã hy sinh, cống hiến vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; qua đó phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

- Tôn vinh các anh hùng, liệt sĩ, thương binh và người có công; khẳng định sự cống hiến, hy sinh của họ cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân là vô giá. Việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công là vinh dự, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay và mai sau.

- Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trân trọng đánh giá cao những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sĩ đối với Tổ quốc; đồng thời cũng luôn chú trọng giáo dục ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và lòng biết ơn sâu sắc của các tầng lớp nhân dân, của các thế hệ cách mạng đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng.

II. MỘT SỐ THÀNH TỰU NỔI BẬT TRONG CÔNG TÁC TBLS VÀ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 70 NĂM QUA

1. Xây dựng và thực hiện thống nhất trong cả nước một hệ thống chính sách, chế độ ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng

- Kể từ Sắc lệnh số 20/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 16/2/1947 đặt “chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ” đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã được nghiên cứu xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, bảo đảm chất lượng để từng bước cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, là cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân; cơ bản đáp ứng yêu cầu đề ra.

 - Nhiều vấn đề bất hợp lý do lịch sử để lại cũng như vấn đề mới nảy sinh trong quá trình chuyển đổi cơ chế và những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh, như vấn đề xác nhận liệt sĩ, thương binh; chính sách ưu đãi đối với thanh niên xung phong, những người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; chính sách ưu đãi về giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, chế độ trợ cấp đối với một số đối tượng người có công với cách mạng được các cấp, các ngành quan tâm, giải quyết hiệu quả.

- Việc xác nhận, giải quyết chế độ ưu đãi đối với người có công đạt kết quả tích cực. Đến nay, toàn quốc đã xác nhận khoảng 9 triệu người có công, trong đó:

+ Gần 9.000 người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945;
+ 16.500 người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19/8/1945;
+ Gần 1,2 triệu liệt sĩ; gần 500.000 người là thân nhân liệt sĩ;
+ Trên 117.000 Bà mẹ Việt Nam anh hùng;         
+ Gần 1.300 Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Anh hùng Lao động;
+ Gần 600.000 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh; trên 40.000 thương binh loại B;
+ Gần 185.000 bệnh binh;
+ Gần 312.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học;
+ Gần 111.000 người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;
+ 1.897.000 người có công giúp đỡ cách mạng;
+ Gần 4,1 triệu người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế.

- Hiện cả nước có trên 1,4 triệu người có công và thân nhân đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng; qua rà soát, cơ bản người có công đã được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước.

- Theo kết quả rà soát năm 2014 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong số 2.070.842 đối tượng được rà soát có 1.982.769 trường hợp (chiếm gần 96%) được hưởng đủ chế độ; 86.201 trường hợp (chiếm hơn 4%) hưởng chưa đầy đủ; 1.872 trường hợp (chiếm gần 0,1%) hưởng sai chính sách.

2. Phong trào chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng phát triển sâu rộng từ Trung ương đến địa phương và đã đạt được hiệu quả thiết thực, thể hiện tình cảm, trách nhiệm và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc

- Cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đã tích cực triển khai và thực hiện có hiệu quả các phong trào chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công bằng những việc làm thiết thực thông qua: Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, xây dựng nhà tình nghĩa, vườn cây tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa, chăm sóc bố, mẹ liệt sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ côi, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Từ năm 2007 - 2017, cả nước đã đóng góp xây dựng Quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa” hơn 3.481 tỷ đồng, trong đó, quỹ Trung ương hơn 41,36 tỷ đồng, quỹ địa phương hơn 3.440,4 tỷ đồng; xây dựng gần 90.000 nhà tình nghĩa, sửa chữa gần 75.000 nhà tình nghĩa với tổng trị giá gần 12.200 tỷ đồng; tặng gần 159.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa trị giá gần 955.000 tỷ đồng.

Thực hiện Quyết định số 22/1023/QĐ-TTg, Chính phủ đã cấp cho các địa phương trên 2.450 tỷ đồng để hỗ trợ cho 80.000 hộ gia đình có công khó khăn về nhà ở; 100% Mẹ Việt Nam anh hùng được các đơn vị nhận phụng dưỡng; 98% xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ; 97% người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống người dân nơi cư trú.

- Bản thân thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách, người có công với cách mạng cũng nỗ lực phấn đấu vươn lên trở thành những tấm gương tiêu biểu, điển hình nhân tố mới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

3. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, xây dựng, tu bổ nghĩa trang, công trình tưởng niệm liệt sĩ được chú trọng và đạt được kết quả tích cực

- Đảng, Nhà nước và quân đội đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế trong việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Nhà nước đầu tư nâng cấp các trung tâm giám định ADN của các bộ, ngành nhằm đẩy nhanh việc xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.

- Các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị đã tích cực trong việc phát hiện, quy tập mộ liệt sĩ và ghi danh, ghi công liệt sĩ.

- Công tác thông tin, tuyên truyền phục vụ công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đã tạo sức lan tỏa trong các tầng lớp nhân dân.

- Bằng phương pháp thực chứng, phương pháp giám định ADN, các cơ quan chức năng đã quy tập, lấy mẫu hài cốt liệt sĩ, sinh phẩm thân nhân liệt sĩ, phân tích hàng chục nghìn trường hợp, góp phần phục vụ tích cực cho công tác tìm kiếm hài cốt liệt sĩ. Thời gian qua, cả nước đã tìm kiếm, quy tập được 939.462 hài cốt liệt sĩ; an táng tại 3.077 nghĩa trang trong cả nước.

- Việc xây dựng, tu bổ nghĩa trang, công trình tưởng niệm liệt sĩ được các cấp, các ngành chú trọng và đạt được những kết quả tích cực. Hiện nay, cả nước có 9.637 công trình ghi công liệt sĩ, gồm đài tưởng niệm, nhà bia ghi tên liệt sĩ, nghĩa trang liệt sĩ. Nhiều công trình trở thành công trình văn hóa, có giá trị nghệ thuật, giáo dục truyền thống: Nghĩa trang Điện Biên Phủ, Nghĩa trang Trường Sơn, Nghĩa trang Đường 9, Đền liệt sĩ Bến Dược, Khu tưởng niệm liệt sĩ thanh niên xung phong tại ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), Truông Bồn (Nghệ An)...

4. Một số kết quả nổi bật thực hiện công tác TBLS, người có công với cách mạng và chính sách hậu phương quân đội của LLVT Quân khu 3 trong 70 năm qua

Trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân khu 3 đã có hơn 3 triệu thanh niên nhập ngũ, hơn 60 vạn thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên các chiến trường. Hiện nay trên địa bàn Quân khu có 16.528 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, hơn 25 vạn liệt sĩ, 15 vạn thương, bệnh binh và hàng ngàn người bị nhiễm chất độc da cam dioxin...

 Gần 72 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dù trong điều kiện chiến tranh ác liệt hay đất nước thống nhất, LLVT Quân khu 3 luôn làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ; phong trào chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng đã trở thành hoạt động thường xuyên, sâu rộng, mang lại hiệu quả thiết thực. 10 năm qua cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu đã quyên góp ủng hộ xây dựng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” gần 18 tỷ đồng; xây mới và sửa chữa 511 căn Nhà tình nghĩa, trị giá gần 29 tỷ đồng; đóng góp trên 75.000 ngày công lao động xây dựng, sửa chữa nhà tình nghĩa; tặng 3.655 sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các đối tượng chính sách trị giá trên 12 tỷ đồng; tặng giống vốn, công cụ sản xuất cho 348 gia đình chính sách tiêu biểu trị giá gần 2 tỷ đồng; nhận phụng dưỡng 210 Bà mẹ Việt Nam anh hùng; đỡ đầu 28 con thương binh; tạo công ăn việc làm cho 2.816 con thương binh, liệt sĩ; tổ chức khám chữa bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho trên 31.000 lượt đối tượng chính sách với số tiền gần 4 tỷ đồng; thăm, tặng quà các Trung tâm điều dưỡng thương binh và 29.500 lượt đối tượng chính sách trị giá gần 8,8 tỷ đồng...

Giải quyết chế độ, chính sách cho đối tượng tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ bảo đảm kịp thời, chính xác, đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn chế độ; là đơn vị dẫn đầu cả nước, được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đánh giá cao, cụ thể:

- Theo Quyết định 47 cho 64.320 người với số tiền hơn 136 tỷ đồng;

- Theo Quyết định 290 cho 54.395 người với số tiền gần 66 tỷ đồng;

- Theo Quyết định 142 cho 307.120 người với số tiền 1.290 tỷ đồng;

- Theo Quyết định 62 cho 289.951 người với số tiền trên 1.140 tỷ đồng;

- Theo Quyết định 49 cho 9.404 người với số tiền trên 20 tỷ đồng.

Các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn Quân khu đã tổ chức đón nhận, đưa 1.209 hài cốt liệt sĩ hy sinh ở chiến trường hai nước bạn Lào và Campuchia về an táng tại nghĩa trang quê nhà; tìm kiếm, quy tập 93 hài cốt liệt sĩ trên địa bàn đưa vào an táng tại nghĩa trang liệt sĩ các địa phương…

Hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày TBLS, ngay từ đầu năm 2017, Bộ Tư lệnh Quân khu đã xây dựng kế hoạch, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị triển khai nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực. Theo đó, đến ngày 20/7 năm nay phấn đấu hoàn thành Chương trình xây dựng 140 nhà tình nghĩa tặng đối tượng chính sách có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở trong đơn vị và trên địa bàn đóng quân; Tổ chức thăm hỏi tặng quà các Trung tâm điều dưỡng thương, bệnh binh nặng, Bệnh viện Quân y 5, Quân y 7, Phân viện 7/Hải Phòng; Tặng quà 189 Bà mẹ Việt Nam anh hùng do Quân khu nhận phụng dưỡng; Tổ chức đoàn cán bộ là đối tượng chính sách đang công tác cơ quan Quân khu đi tham quan; Tổ chức Lễ mít tinh, gặp mặt tặng quà 203 đồng chí là thương binh, thân nhân liệt sĩ đang công tác trong LLVT Quân khu; Bệnh viện Quân y 5, Quân y 7 tổ chức khám, chữa bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho đối tượng chính sách và nhân dân vùng khó khăn, vùng biên giới, hải đảo; Đoàn Văn công biểu diễn nghệ thuật phục vụ thương, bệnh binh tại Trung tâm điều dưỡng thương binh Nho Quan (Ninh Bình), Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm (Hà Nam); Bảo tàng Quân khu triển lãm lưu động với chủ đề “LLVT Quân khu với phong trào đền ơn đáp nghĩa”, “Da cam, lương tri và công lý” phục vụ cán bộ chiến sĩ LLVT và nhân dân 9 tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu.

Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trực thuộc Quân khu đã phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền, ban ngành, đoàn thể địa phương triển khai kế hoạch thực hiện nghiêm túc, đạt hiệu quả thiết thực; tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong đơn vị, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng Nhân dân. Đến nay các đơn vị trong LLVT Quân khu đã trích quỹ vốn, huy động xã hội hóa trên 5 tỷ đồng tổ chức các hoạt động đền ơn đáp nghĩa; triển khai hỗ trợ xây dựng 188 nhà tình nghĩa (vượt 48 nhà so với chỉ tiêu); tổ chức thăm hỏi tặng quà 209 tập thể, 1.589 cá nhân là đối tượng chính sách trong đơn vị và trên địa bàn; tổ chức khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho 9.975 lượt người; phối hợp tổ chức 2.096 ngày công giúp đỡ gia đình chính sách, tu sửa, tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ... Những việc làm trên đã trực tiếp giúp đỡ về vật chất, động viên về tinh thần, góp phần ổn định cuộc sống cho các đối tượng chính sách, tăng cường mối đoàn kết quân - dân; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, tăng cường thế trận lòng dân vững chắc.

III. PHÁT HUY THÀNH TÍCH ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC, KHẮC PHỤC HẠN CHẾ, TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TBLS VÀ NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: “Thực hiện tốt chính sách chăm sóc người có công trên cơ sở huy động mọi nguồn lực xã hội kết hợp với nguồn lực của Nhà nước; bảo đảm người có công có mức sống từ trung bình trở lên”. Để đạt được mục tiêu này, cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

1. Các cấp, ngành cần chỉ đạo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách ưu đãi khác về kinh tế - xã hội đối với người có công, đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục đào tạo, dạy nghề, tạo việc làm cho người có công và con em của họ; giúp đỡ thiết thực về vật chất và tinh thần đối với các đối tượng chính sách, nhất là đối tượng còn nhiều khó khăn để phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% hộ người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú. Đồng thời, tiến hành rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống các chính sách ưu đãi đối với người có công cho phù hợp với tình hình của đất nước. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch mọi chính sách về người có công.

2. Làm tốt hơn công tác tu bổ, tôn tạo các nghĩa trang liệt sĩ và công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, xác định danh tính liệt sĩ, thông báo và tạo điều kiện cho các gia đình người thân đến thăm viếng. Tiến hành sơ tổng kết, rút kinh nghiệm, phát hiện và nhân rộng những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong công tác thương binh, liệt sĩ và người có công; qua đó thúc đẩy các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Toàn dân chăm sóc người có công với nước” phát triển rộng khắp, đi vào chiều sâu và đem lại hiệu quả thiết thực; đồng thời, biểu dương những tấm gương thương binh, bệnh binh và người có công tiêu biểu.

3. Đẩy mạnh và thực hiện tốt việc lập, xét duyệt hồ sơ thường xuyên; tập trung giải quyết hồ sơ đề nghị xác nhận người có công còn tồn đọng, nhất là những hồ sơ đã được xác lập trong những giai đoạn trước đây nhưng chưa được xem xét giải quyết do chưa bảo đảm thủ tục, coi đây là nhiệm vụ quan trọng.

4. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công tiếp tục phát huy ý chí tự lực tự cường, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và tham gia các hoạt động xã hội, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước với phương châm “Nhà nước, Nhân dân và những người được hưởng chính sách ưu đãi cùng phấn đấu”.

5. Đẩy mạnh tuyên truyền truyền thống yêu nước và đạo nghĩa “Uống nước nhớ nguồn” trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc và trân trọng tri ân công lao to lớn của các anh hùng-liệt sĩ và những người có công với nước; biến nhận thức và tình cảm tốt đẹp đó thành hành động thiết thực góp phần thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với cách mạng./.
Các tin mới hơn
Bộ ngành, địa phương hoàn thiện Cổng TTĐT, trong đó có Chuyên mục tiếp cận thông tin(23/03/2019)
Thực hiện tốt quy định về tiêu chuẩn kiến thức quốc phòng, an ninh đối với cán bộ, đảng viên(29/01/2018)
Tổng cục Chính trị: Hướng dẫn 6 nội dung hoạt động CTĐ, CTCT dịp Tết Nguyên đán(17/01/2018)
Các tin cũ hơn
Chỉ tiêu tuyển sinh và những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng vào các trường trong Quân đội năm 2017(26/02/2017)
Hướng dẫn đăng ký sơ tuyển vào đại học, cao đẳng quân sự năm 2017(17/02/2017)
Quy định về lưu chiểu điện tử đối với loại hình báo nói, báo hình và báo điện tử độc lập với cơ quan báo chí(17/02/2017)
Quy định hạ sĩ quan, binh sĩ có trình độ chuyên môn, kỹ thuật khi thực hiện nghĩa vụ quân sự được ưu tiên sử dụng vào vị trí công tác phù hợp với nhu cầu của Quân đội(18/01/2017)
Quy định cấp, quản lý, sử dụng Giấy chứng minh sĩ quan; Chứng minh quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng; Thẻ hạ sĩ quan, binh sĩ tại ngũ; Thẻ sĩ quan dự bị; Thẻ quân nhân chuyên nghiệp và hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị(18/01/2017)
na
Video
Phóng sự Ảnh
Trang tin đơn vị
Hệ thống văn bản
na
na
na
na
na
na
Liên kết website